Một chồng có thể lấy nhiều vợ hay không?

Lấy nhiều vợ? Trong hôn nhân gia đình, chế độ hôn nhân luôn là một vấn đề giành được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học. Thực tế, lịch sử đã chứng kiến chế độ gia đình mẫu hệ, đó là gia đình mà người phụ nữ làm chủ. Ở chế độ phong kiến quy định một nam nhân có thể có nhiều thê thiếp, và con gái thường không được coi trọng trong chế độ này. Như vậy, đến ngày nay, trong hôn nhân một chồng có thể lấy được nhiều vợ hay không? Bài viết này sẽ giải đáp cho bạn về điều này..

Căn cứ pháp lý

  • Hiến pháp năm 2013
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959
  • Nghị quyết 76/CP năm 1977
  • Thông tư số 60/TATC ngày 22/2/1978
lấy nhiều vợ
Ảnh minh họa

Những quy định pháp luật về việc lấy nhiều hơn một vợ

Kể từ khi dân tộc ta giành lại độc lập, tự do (ngày 2/9/1945) cho đến ngày nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn luôn quán triệt và nhất quán về vấn đề hôn nhân một vợ, một chồng. Cụ thể như:

Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định như sau: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn; Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”. Đây là nguyên tắc nhằm mục đích đảm bảo cho sự hạnh phúc của gia đình, sự bền vững của hôn nhân và phù hợp với sự tiến bộ của xã hội.

Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa và được quy định tại khoản 1, Điều 2, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”.

Đây cũng là một trong các nguyên tắc được quy định tại các Luật Hôn nhân và Gia đình giai đoạn trước đó, cụ thể là:

Tại khoản 1, Điều 2, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”.

Tại  Điều 1, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định cụ thể như sau: “Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững”.

Tại Điều 1, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 quy định: “Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hòa thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ”.

Đồng thời, khoản 1, Điều 4, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cũng khẳng định: “Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình”.

Để thực hiện nguyên tắc này, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng nhấn mạnh và bảo đảm cho việc thực hiện bằng việc quy định cụ thể các hành vi bị cấm tại điểm c, khoản 2, Điều  5 đó là: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.

Như vậy, kể từ ngày 3/1/1959, khi Luật Hôn nhân và Gia đình đầu tiên có hiệu lực thì pháp luật đã luôn đề cao nguyên tắc một vợ, một chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Việc lấy chồng – vợ thứ hai, là vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng và vi phạm điều cấm của luật.

lấy nhiều vợ
Ảnh minh họa

Một số trường hợp ngoại lệ

Như phần trên đã trình bày, chúng ta đều thấy rằng pháp luật hiện hành không cho phép một người nam được lấy hai vợ hay người nữ được lấy nhiều chồng, tức là việc kết hôn với người thứ hai từ thời điểm Luật hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực là trái pháp luật. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc không tồn tại các trường hợp có hai vợ/ chồng hợp pháp.

Dựa trên các quy định pháp luật có liên quan, trong bài viết này chúng tôi xin đưa ra một số trường hợp ngoại lệ như sau:

Trường hợp kết hôn trước khi Luật hôn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực (trước ngày 13/01/1960)

Đối với khu vực miền Bắc:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, những trường hợp kết hôn từ ngày 13/01/1960 mà vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng thì được coi là không hợp pháp. Do vậy, những quan hệ hôn nhân được xác lập trước khi luật này có hiệu lực, dù có nhiều vợ, nhiều chồng thì vẫn không vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng và được coi là hợp pháp.

Bên cạnh đó, do tồn tại của lịch sử, các quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày 13/01/1959 vẫn được coi là hợp pháp. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh nên luật này chỉ có hiệu lực đối với miền Bắc.

Đối với khu vực miền Nam:

Theo Nghị quyết 76/CP năm 1977 thì Luật hôn nhân gia đình năm 1959 được áp dụng từ ngày 25/3/1977 (ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng pháp luật thống nhất trong cả nước). Tương tự miền Bắc, những quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng được xác lập trước ngày 25/3/1977 vẫn được công nhận hợp pháp.

Trường hợp bộ đội, cán bộ có vợ, có chồng ở miền Nam tập kết ra miền Bắc, lấy vợ, lấy chồng khác

Theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao thì hiện nay nếu người vợ hoặc người chồng ở miền Nam vẫn không có quan hệ hôn nhân mới và muốn duy trì quan hệ hôn nhân trước đây thì công nhận cả hôn nhân mới và hôn nhân trước đây.

Lưu ý:

Thông tư này chỉ áp dụng đối với các đối tượng là cán bộ, bộ đội đã có vợ hoặc có chồng trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ hoặc lấy chồng khác và chỉ đóng khung trong thời gian từ sau ngày ký hiệp định Giơ-ne-vơ đến ngày Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố thống nhất đất nước, Luật Hôn nhân và gia đình về nguyên tắc được áp dụng chung trong cả nước (tức ngày 25/3/1977).

Như vậy, hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng chỉ được công nhận trong các trường hợp trên. Từ đây ta có thể khẳng định rằng dù giai đoạn nào thì pháp luật cũng tôn trọng quan hệ hôn nhân một vợ, một chồng. Đồng thời, tại Điều 34, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 nêu rõ: “Những hành vi trái với Luật này sẽ bị xử lý theo pháp luật”.

 Bởi vậy, dù cưới hai vợ trước năm 1960 thì quan hệ hôn nhân giữa người nam và người thứ hai sẽ không được pháp luật công nhận. Riêng tại những vùng dân tộc thiểu số thì có thể căn cứ vào tình hình cụ thể mà đặt ra những điều khoản riêng biệt nhưng phải được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

Như vậy, một chồng có thể lấy được nhiều vợ hay không? 

Đến đây, chúng tôi xin được trả lời cho câu hỏi “Một chồng có thể lấy nhiều vợ hay không?” là: theo quy định của pháp luật hiện hành thì một chồng không được lấy nhiều vợ, không được pháp luật công nhận trừ một số trường hợp ngoại lệ như đã nêu trên.

Trên đây là những chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Một chồng có thể lấy được nhiều vợ hay không?”Nội dung bài viết nêu trên của chúng tôi, chỉ nhằm mục đích tuyên truyền pháp luật mang tính tham khảo chung đến quý khách hàng. Không phải là nội dung tư vấn nhằm giải quyết các nhu cầu pháp lý cụ thể của từng khách hàng. Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất. Quý khách vui lòng liên hệ Văn phòng Công ty Luật TNHH Sunny theo số điện thoại: 0876.00.33.44 để nhận được sự hỗ trợ từ các luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý của Văn phòng.

LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC HỖ TRỢ

CÔNG TY LUẬT TNHH SUNNY – SUNNY LAW FIRM 

Địa chỉ: Tầng 2, Tòa Big Tower, 18 Phạm Hùng, Hà Nội 

Hotline/zalo0876003344 – 09898177189 –  0876522268

Email: sunnylawfirm.vn@gmail.com

FanpageCông ty Luật Sunny

Đánh Giá Bài Viết

Tác giả

  • Ls. Quàng Trung Dũng

    Luật sư QUÀNG TRUNG DŨNG là Phó giám đốc Công ty Luật TNHH Sunny/ Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. Luật sư có 15 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực Hình sự, Dân sự, Hành chính; là luật sư chuyên nghiệp hoạt động tranh tụng tại các cấp tòa. Phương châm làm việc của Luật sư QUÀNG TRUNG DŨNG là: TRÁCH NHIỆM - SÁNG TẠO - HIỆU QUẢ.