Ly hôn có yếu tố nước ngoài và hậu quả pháp lý

Gia đình là lò sưởi của hạnh phúc, là sự cân bằng trong cuộc sống của mọi thành viên, mỗi cá nhân trong xã hội. Ngày nay, trong điều kiện đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đất nước ta đang phải đối mặt với những tác động tích cực và tiêu cực không chỉ đối với nền kinh tế mà ngay cả các vấn đề về văn hóa, xã hội. Điển hình cho những vấn đề tiêu cực đáng nói đến ở đây là tình trạng ly hôn tăng lên, trong đó có cả ly hôn có yếu tố nước ngoài có những tính chất phức tạp. 

Ly hôn có yếu tố nước ngoài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài

Các khái niệm cơ bản

Ly hôn là gì?

Căn cứ vào khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định cụ thể về khái niệm ly hôn, cụ thể: “ Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. 

Thuận tình ly hôn là gì? 

Tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “ Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.”

Ly hôn có yếu tố nước ngoài là gì?

Pháp luật Việt Nam hiện chưa trù liệu khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài. Song ly hôn có yếu tố nước ngoài thực chất thuộc nội hàm của quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Trên cơ sở của khái niệm ly hôn, khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và nguyên tắc áp dụng pháp luật trong các trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, có thể đưa ra khái niệm như sau:

Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng giữa các bên chủ thể trong đó, ít nhất một bên thực hiện quyền ly hôn là người nước ngoài, người Việt Nam định cư nước ngoài; việc ly hôn giữa các bên chủ thể là công dân Việt Nam nhưng căn cứ xác lập hay chấm dứt việc ly hôn xảy ra tại nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến việc ly hôn nằm ở nước ngoài. 

Thẩm quyền xử lý vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại Điều 28 và Điều 29 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì việc giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình hay yêu cầu về hôn nhân và gia đình đều thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Về thẩm quyền theo cấp Tòa án: căn cứ Điều 36, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo cấp những vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài (có một bên ở nước ngoài hoặc tài sản ở nước ngoài) thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

Về thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ: theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình được xác định như sau:

  • Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
  • Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
  •  Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Hậu quả pháp lý của ly hôn có yếu tố nước ngoài

Hậu quả pháp lý của ly hôn có yếu tố nước ngoài
Hậu quả pháp lý của ly hôn có yếu tố nước ngoài

Quan hệ nhân thân

Quan hệ giữa vợ chồng sau ly hôn
Cũng giống như các trường hợp ly hôn thông thường, việc ly hôn sẽ được coi là căn cứ để chấm dứt quan hệ vợ chồng. Việc chấm dứt này thường là do một bên yêu cầu hoặc do cả hai bên thuận tình và phải được Tòa án công nhận bằng văn bản cho phép ly hôn hoặc quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của đương sự. Sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng sẽ chính thức chấm dứt.
Quan hệ giữa cha, mẹ và con cái sau ly hôn
Ly hôn có thể làm làm chấm dứt quan hệ vợ chồng nhưng không làm chấm dứt quan hệ giữa cha, mẹ và con cái. Việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trước và sau khi ly hôn. Bên cạnh đó, sau khi ly hôn sẽ làm phát sinh một vài vấn đề trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái điển hình như sau khi ly hôn, con cái sẽ không được sống chung với cả bố và mẹ như trước. Do vậy, việc giao con chưa thành niên cho một trong hai người nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là điều cần thiết.

Trước khi giao con chưa thành niên cho vợ hay chồng nuôi dưỡng Tòa án luôn phải xem xét đến hoàn cảnh thực tế của mỗi bên, nhằm đảm bảo lợi ích về mọi mặt cho đứa trẻ. Không chỉ vậy, vấn đề giao con cho ai nuôi dưỡng thì việc cấp dưỡng cho con cái sau ly hôn, thay đổi nuôi con sau ly hôn… cũng là những vấn đề mới phát sinh trong quan hệ cha, mẹ, con cái sau khi ly hôn nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.

 Quan hệ tài sản

Chế độ tài sản
Chế độ tài sản theo thỏa thuận: Chế độ tài sản theo thỏa thuận là việc vợ chồng tự thỏa thuận và thỏa thuận cùng với nhau về việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ.Việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành.
Chế độ tài sản theo luật định: Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án sẽ giải quyết.
Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể:
– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Đối với trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh: Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác. ( Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)
Đối với trường hợp chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình: (Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)
Nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.
Trường hợp chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn: (khoản 2 Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng.
Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định pháp luật.
Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo nguyên tắc.
Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.
Tài sản riêng: Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
Lưu ý: Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Trên đây là những chia sẻ của chúng tôi về vấn đề “Thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài”. Nội dung bài viết nêu trên của chúng tôi, chỉ nhằm mục đích tuyên truyền pháp luật mang tính tham khảo chung đến quý khách hàng. Không phải là nội dung tư vấn nhằm giải quyết các nhu cầu pháp lý cụ thể của từng khách hàng. Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất. Quý khách vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH Sunny theo số điện thoại: 0876.00.33.44 để nhận được sự hỗ trợ từ các luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý của Văn phòng.

LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC HỖ TRỢ

CÔNG TY LUẬT TNHH SUNNY – SUNNY LAW FIRM 

Địa chỉ: Tầng 2, Tòa Big Tower, 18 Phạm Hùng, Hà Nội 

Hotline/zalo0876003344 – 09898177189 –  0876522268

Email: sunnylawfirm.vn@gmail.com

FanpageCông ty Luật Sunny

Đánh Giá Bài Viết

Tác giả

  • Ls. Quàng Trung Dũng

    Luật sư QUÀNG TRUNG DŨNG là Phó giám đốc Công ty Luật TNHH Sunny/ Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. Luật sư có 15 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực Hình sự, Dân sự, Hành chính; là luật sư chuyên nghiệp hoạt động tranh tụng tại các cấp tòa. Phương châm làm việc của Luật sư QUÀNG TRUNG DŨNG là: TRÁCH NHIỆM - SÁNG TẠO - HIỆU QUẢ.