Bị người khác giữ sổ đỏ thì phải làm sao? Sổ đỏ là giấy tờ pháp lý quan trọng chứng minh quyền sử dụng đất của cá nhân hoặc hộ gia đình. Tuy nhiên, trong thực tế, không ít trường hợp sổ đỏ bị người khác giữ khiến chủ sở hữu hoang mang, lo lắng. Vậy trong trường hợp này, cần xử lý ra sao để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình? Bài viết sau Sunny sẽ cung cấp những hướng dẫn cụ thể.

1. Bị người khác giữ sổ đỏ thì phải làm sao
Cách 1: Thương lượng, hòa giải
Khi phát hiện Sổ đỏ bị người khác chiếm giữ, bước đầu tiên bạn nên thực hiện là thương lượng, hòa giải trực tiếp với người đang giữ giấy tờ. Đây là cách giải quyết mang tính chất mềm mỏng, hạn chế căng thẳng và giữ được mối quan hệ nếu nguyên nhân chiếm giữ xuất phát từ tranh chấp gia đình hoặc mâu thuẫn cá nhân.
Trong quá trình thương lại hãy giữ thái độ bình tĩnh, trao đổi một cách thiện chí và rõ ràng. Bạn có thể giải thích rằng việc chiếm giữ Sổ đỏ không sẽ không mang lại lợi ích pháp lý cho họ. Trong trường hợp đạt được thỏa thuận, hãy lập văn bản ghi nhận việc trả lại giấy tờ để đảm bảo mọi vấn đề đã được giải quyết một cách minh bạch tránh được tối thiểu những rủi ro pháp lý về sau.
Việc thương lượng thành công không chỉ giúp người sử dụng đất lấy lại được sổ đỏ một cách nhanh chóng mà còn giúp đôi bên duy trì được mối quan hệ hòa hoãn với nhau. Tuy nhiên nếu đối phương không có thiện chí hợp tác thì người sử dụng đất cần chuẩn bị sẵn sàng những bước pháp lý tiếp theo để bảo vệ được tối đa quyền lợi của mình trong quá trình sử dụng đất.
Cách 2: Báo mất và xin cấp lại sổ đỏ
Trong trường hợp Sổ đỏ bị chiếm giữ và mọi nỗ lực thương lượng đều không mang lại kết quả, người sử dụng đất có thể lựa chọn giải pháp báo mất và xin cấp lại Sổ đỏ. Đây là cách hợp pháp để lấy lại quyền kiểm soát giấy tờ quan trọng này, đồng thời ngăn chặn người chiếm giữ sử dụng Sổ đỏ vào các mục đích bất hợp pháp. Cụ thể, về thủ tục báo mất xin cấp lại sổ đỏ được tiến hành như sau, căn cứ theo Điều 39 Nghị định 101/2024/NĐ-CP được quy định như sau:
Bước 1. Nộp hồ sơ cấp lại sổ đỏ bị mất
Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất cần chuẩn bị Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 11/ĐK ban hành kèm theo Nghị định 101/2024/NĐ-CP. Sau khi hoàn thiện, hồ sơ này có thể được nộp tại một trong các cơ quan tiếp nhận sau:
Bộ phận Một cửa theo quy định của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, nơi thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, hoặc cấp xã.
Văn phòng đăng ký đất đai hoặc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại địa phương.
Nếu bạn nộp hồ sơ tại Bộ phận Một cửa, hồ sơ sẽ được chuyển đến Văn phòng đăng ký đất đai/chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai xử lý. Cơ quan này sẽ kiểm tra, xác minh thông tin và thực hiện các bước cần thiết để cấp lại Sổ đỏ.
Bước 2. Tiếp nhận hồ sơ
Khi tiếp nhận hồ sơ xin cấp lại Sổ đỏ bị mất, Văn phòng đăng ký đất đai/chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai sẽ thực hiện một loạt các công việc quan trọng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất và tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Đầu tiên sẽ kiểm tra thông tin về Sổ đỏ đã cấp, đối chiếu với hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai để xác nhận tình trạng của thửa đất. Nếu phát hiện thửa đất hoặc tài sản gắn liền với đất đã được chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu, hoặc đang thế chấp tại tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế, hoặc cá nhân theo quy định, hồ sơ sẽ được trả lại cho người nộp.
Trong trường hợp thông tin không có vấn đề gì đặc biệt, Văn phòng đăng ký đất đai sẽ chuyển thông tin đến UBND cấp xã nơi có đất và thực hiện đăng thông báo về việc mất Sổ đỏ trên phương tiện thông tin đại chúng địa phương trong vòng 15 ngày. Chi phí đăng tin sẽ do người sử dụng đất hoặc chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất chịu trách nhiệm.
Sau khi UBND cấp xã hoàn tất niêm yết công khai và lập biên bản, Văn phòng đăng ký đất đai sẽ thực hiện việc hủy Sổ đỏ cũ, cập nhật lại hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai, từ đó cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người được cấp.
Nếu Sổ đỏ đã cấp trước đó chưa sử dụng bản đồ địa chính hoặc trích đo bản đồ địa chính thửa đất, quy trình sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 37 Nghị định 101/2024/NĐ-CP.
Bước 3. UBND cấp xã tiến hành thực hiện công việc sau
Việc niêm yết công khai về việc mất Sổ đỏ đã cấp được thực hiện tại trụ sở UBND cấp xã và các điểm dân cư nơi có đất trong thời gian 15 ngày, nhằm thông báo rộng rãi cho cộng đồng và tạo cơ hội cho những phản ánh liên quan đến việc mất Sổ đỏ.
Trong suốt thời gian niêm yết, UBND cấp xã sẽ tiếp nhận các ý kiến, phản hồi từ người dân để xác minh thông tin và xử lý kịp thời. Sau khi kết thúc thời gian niêm yết, UBND cấp xã có trách nhiệm lập biên bản kết thúc niêm yết và gửi về Văn phòng đăng ký đất đai trong vòng 5 ngày để tiến hành các bước tiếp theo.
Đặc biệt, trong trường hợp Trang bổ sung của Sổ đỏ bị mất trước ngày 01/8/2024, người sử dụng đất hoặc chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất cần nộp Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 11/ĐK ban hành kèm theo Nghị định 101/2024/NĐ-CP và bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp.
Sau khi nhận hồ sơ, Văn phòng đăng ký đất đai sẽ kiểm tra thông tin Trang bổ sung trong hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai, từ đó tiến hành cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất với các thông tin đã được cập nhật và thông tin trên Trang bổ sung.
Bước 4. Trả lại kết quả thực hiện thủ tục
Cấp lại Giấy chứng nhận cho người được cấp
Cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai
Cách 3: Khởi kiện tại Tòa án
Sổ đỏ không phải là tài sản theo nghĩa tuy nhiên nó đóng vai trò là chứng thư pháp lý quan trọng, xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.
Chính vì vậy, nếu sổ đỏ bị chiếm giữ, người sử dụng đất có thể gặp phải những ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện quyền sử dụng đất và các quyền dân sự của mình. Điều này đặc biệt nguy hiểm trong các trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi thiếu sổ đỏ, người sử dụng đất có thể gặp phải rủi ro pháp lý và thiệt hại tài chính.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 14 Bộ Luật Dân sự 2015 thì Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có Điều luật để áp dụng. Ngoài ra theo khoản 2 Điều 4 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định về việc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng, vụ việc chưa có điều luật được áp dụng quy định tại khoản này sẽ được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ Luật Dân sự và Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định.
Thêm vào đó theo khoản 1 Điều 14 BLDS 2015 quy định về bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền thì toà án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ quyền dân sự của cá nhân và pháp nhân.
Vì vậy theo Điều 164 BLDS 2015 về các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản thì chủ sở hữu, chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải tiến hành thực hiện trả lại tài sản và đồng thời chấm dứt hành vi cản trở pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Như vậy, có thể thấy dựa vào những căn cứ pháp lý nêu trên thì nếu người sử dụng đất có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người chiếm giữ phải trả lại Giấy chứng nhận và chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền của người sử dụng đất thì TAND sẽ thụ lý giải quyết đối với tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.
2. Chiếm giữ sổ đỏ có vi phạm pháp luật không
Căn cứ theo quy định của Bộ Luật HÌnh sự thì hành vi giữ sổ đỏ (hay còn gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) của người khác là không đủ yếu tố để cấu thành tội phạm bởi vì sổ đỏ không phải là tài sản có giá.
Cụ thể theo Điều 105 Bộ Luật dân sự 2015 quy định tài sản phải là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Trong đó tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.
Ngoài ra theo khoản 21 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một chứng thư pháp lý quan trọng để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất. Như vậy căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành thì sổ đỏ thực chất không phải là tiền mà đây chỉ là giấy tờ xác nhận về quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức.
Theo đó việc chiếm giữ sổ đỏ của người khác là không đủ yếu tố để cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hiện hành. Điều này đồng nghĩa với việc chiếm giữ sổ đỏ không đồng nghĩa với việc chiếm đoạt đất đai. Vì thế điều quan trọng hơn hết là cần thực hiện các bước pháp lý phù hợp để lấy lại giấy tờ, tránh các tranh chấp không đáng có và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
3. Tư vấn đất đai của chúng tôi
Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn đất đai với các ưu điểm:
Tư vấn miễn phí về hồ sơ, thủ tục cần thiết.
Hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định.
Thay mặt khách hàng nộp hồ sơ và theo dõi quá trình xử lý.
Giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh, đảm bảo quyền lợi khách hàng về vấn đề đất đai
Liên hệ với Luật Sunny để được tư vấn chi tiết hơn về vấn đề này nhé.
HÃY LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ
Luật sư - Công ty luật TNHH Sunny
Địa chỉ: Tầng 2, Tòa Big Tower, số 18 Phạm Hùng, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Điện thoại: 0922.45.33.88
Email: sunnylawfirm.vn@gmail.com
Fanpage: Công ty Luật Sunny
Hoặc Bạn Hãy Gửi Nội Dung Đăng Ký Tư Vấn Miễn Phí Qua Biểu Mẫu Dưới Đây Luật Sư Sẽ Liên Hệ Lại Ngay!








