“Hôn nhân thực tế” là một thuật ngữ không được quy định cụ thể trong pháp luật hôn nhân và gia đình tại Việt Nam, nhưng có thể hiểu hôn nhân thực tế được dùng để chỉ các mối quan hệ nam nữ sống chung như vợ chồng, hai bên có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký. Bài viết này, hãy cùng Luật Sunny tìm hiểu những quy định hiện hành về hôn nhân thực tế.
1. Thế nào là hôn nhân thực tế?
Hôn nhân thực tế là trường hợp nam nữ chung sống với nhau và thỏa mãn những điều kiện theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận hôn nhân hợp pháp, được giải quyết quyền, lợi ích và nghĩa vụ như hôn nhân hợp pháp.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không công nhận mọi trường hợp sống chung như vợ chồng là hôn nhân thực tế. Chỉ một số trường hợp nhất định, đáp ứng các điều kiện cụ thể, mới được pháp luật xem xét công nhận.
2. Điều kiện để hôn nhân thực tế được công nhận
Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, hôn nhân thực tế được xác nhận là hợp pháp trong hai trường hợp chính sau đây:
– Trường hợp 1: Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực – 03/01/1987 mà hai người này chưa đăng ký kết hôn.
Theo quy định tại mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10, các cặp đôi xác lập quan hệ vợ chồng trước 03/01/1987 được khuyến khích đăng ký kết hôn. Tức là nếu hai người này không đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận quan hệ vợ chồng với nhau.
Cụ thể hơn, hai người xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào trước ngày 03/01/1987 mà chưa tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn, đồng thời chưa ly hôn và một bên trong quan hệ vợ chồng này chưa chết hoặc bị tuyên bố là đã chết, thì được xem là đang có vợ hoặc có chồng, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
Điều kiện để xác định tồn tại hôn nhân thực tế đối với các cặp vợ chồng trong trường hợp này là hai bên phải có đủ các điều kiện để kết hôn theo quy định pháp luật hiện hành và thỏa mãn 01 trong các trường hợp sau đây:
– Hai bên có tổ chức lễ cưới khi thực hiện việc chung sống với nhau;
– Hai bên cùng chung sống với nhau đã được gia đình của một bên hoặc gia đình của hai bên chấp thuận;
– Hai bên cùng chung sống với nhau được cá nhân khác/tổ chức chứng kiến;
– Hai bên có thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau xây dựng gia đình của họ.
Ngoài ra, về vấn đề ly hôn đối với hôn nhân thực tế theo trường hợp này, tại hướng dẫn của Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, nếu một bên hoặc các bên trong quan hệ vợ chồng này yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ áp dụng Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết dù cho hai người này không đăng ký kết hôn.
Và thời điểm công nhận quan hệ vợ chồng này là từ khi bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng.
– Trường hợp 2: Quan hệ vợ chồng được xác lập từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 mà hai người này chưa đăng ký kết hôn.
Theo quy định tại mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10, các cặp đôi xác lập quan hệ vợ chồng 03/01/1987 – trước ngày 01/01/2001 có nghĩa vụ đăng ký kết hôn nếu có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật.
Tức là, các cặp đôi xác lập quan hệ vợ chồng trong khoảng thời gian này cần đăng ký kết hôn theo như thời hạn quy định để được pháp luật công nhận hôn nhân hợp pháp và có thể xác định hôn nhân thực tế trong trường hợp này là từ ngày hai bên bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng.
Điều kiện để xác định hôn nhân thực tế trong trường hợp này tương tự điều kiện kết hôn được nêu tại trường hợp 1. Tuy nhiên cần lưu ý về thời hạn hai bên cần phải thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn là từ 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003.
Sau thời hạn này mà nam nữ sống chung như vợ chồng thực hiện đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng này chỉ được công nhận từ ngày thực hiện việc đăng ký kết hôn. Nói cách khác, không công nhận hôn nhân thực tế đối với khoảng thời gian trước khi họ chung sống cùng nhau.
Sau thời hạn này, nam nữ sống chung như vợ chồng vẫn không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Tức là, dù hai người này có chung sống với nhau như vợ chồng thì không được xem là hôn nhân thực tế.
3. Hôn nhân thực tế chấm dứt khi nào?

Đối với vấn đề chấm dứt hôn nhân thực tế thì các quy định pháp luật hôn nhân & gia đình hiện chưa có quy định rõ ràng.
Tuy nhiên có thể dựa theo các quy định pháp luật và Án lệ số 41/2021/AL tại Quyết định 42/QĐ-CA về chấm dứt hôn nhân thực tế, thì hôn nhân thực tế sẽ chấm dứt trong các trường hợp sau:
– Trường hợp 1: Chấm dứt thông qua con đường tư pháp – thực hiện thủ tục ly hôn. – Trường hợp 2: Chấm dứt do một bên trong quan hệ vợ chồng chết/bị tòa án tuyên bố đã chết. Căn cứ Điều 71 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định người bị Tòa án tuyên bố đã chết khi mất tích 3 năm và có yêu cầu từ người thân thích. Khi đã có quyết định của Tòa Án tuyên bố một bên đã chết thì quan hệ vợ chồng thực tế cũng chấm dứt theo tại thời điểm này.
– Trường hợp 3: Chấm dứt do không còn chung sống với nhau và trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực (03/01/1987) và một hoặc hai bên chung sống với nhau như vợ chồng với người khác. Khi hai bên không còn duy trì quan hệ sống chung, không thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm như vợ chồng thì quan hệ hôn nhân thực tế sẽ được coi là chấm dứt.
4. Hậu quả pháp lý khi chấm dứt hôn nhân thực tế
Quan hệ hôn nhân thực tế không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp do thiếu thủ tục đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, khi mối quan hệ này chấm dứt vẫn phát sinh nhiều hậu quả pháp lý cần giải quyết nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
- Về tài sản chung: Nếu hai bên có tài sản chung hình thành trong thời gian sống chung như vợ chồng, thì tài sản đó được xem xét chia theo nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên, hoàn cảnh cụ thể và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em. Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định thì trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc chia tài sản, Tòa án sẽ căn cứ vào các chứng cứ và tình trạng sở hữu để giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật dân sự.
- Về con chung: Khi hai bên chấm dứt hôn nhân thực tế thì việc xác định quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng và chăm sóc được giải quyết tương tự như các vụ án ly hôn, quy định cụ thể tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong trường hợp con chưa đến tuổi vị thành niên hoặc mất hành vi năng lực dân sự, Tòa án sẽ xem xét các quyền lợi để giao con cho bố hoặc mẹ nuôi dưỡng và người còn lại sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng, thăm nom.
Nếu bạn cần tư vấn chi tiết hoặc hỗ trợ thực hiện vấn đề ly hôn, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua:
Hotline: 0922453388 – 0922543388
Email: sunnylawfirm.vn@gmail.com
Địa chỉ: Tầng 2, toà nhà Big Tower, số 18 đường Phạm Hùng, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội..
Liên hệ ngay Luật Sunny để được tìm hiểu thêm về vấn đề này nhé.
HÃY LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ
Luật sư - Công ty luật TNHH Sunny
Địa chỉ: Tầng 2, Tòa Big Tower, số 18 Phạm Hùng, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Điện thoại: 0922.45.33.88
Email: sunnylawfirm.vn@gmail.com
Fanpage: Công ty Luật Sunny
Hoặc Bạn Hãy Gửi Nội Dung Đăng Ký Tư Vấn Miễn Phí Qua Biểu Mẫu Dưới Đây Luật Sư Sẽ Liên Hệ Lại Ngay!









