Rút đơn ly hôn sau bao lâu nộp lại được?

Rút đơn ly hôn sau bao lâu nộp lại được thì khi mối quan hệ hôn nhân bị dạn nứt, không còn cùng chung mục đích hôn nhân, việc ly hôn sẽ được pháp luật Việt Nam ghi nhận và xem xét thụ lý và quyết định ly hôn cho cặp vợ chồng đó. Việc ly hôn có quy trình khác rắc rối và cần có thời gian, vì nhà nước mong rằng cuộc hôn nhân đó vẫn có thể được cứu vãn, các cặp vợ chồng có ý định ly hôn sẽ có thể hòa giải hoặc tháo gỡ được khúc mắc với đối phương trong cuộc hôn nhân. Và đã có rất nhiều cặp đôi, nhiều cuộc hôn nhân được khôi phục lại mà không đi đến cái kết đổ vỡ. Và một câu hỏi được nhiều người đặt ra là rút đơn ly hôn sau bao lâu nộp lại được? Cùng chúng tôi phân tích bạn nhé.

Rút đơn ly hôn là gì?

Rút đơn ly hôn là việc vợ hoặc chồng thay đổi quyết định không muốn ly hôn nữa sau khi đã nộp đơn ly hôn lên Tòa án nhân dân nơi có thẩm quyền giải quyết của vợ chồng muốn ly hôn.

Ai là người được quyền rút đơn ly hôn?

Theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong quá trình giải quyết Đơn ly hôn, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu hoặc thỏa thuận với nhau.

Trong đó, theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có thể nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự; Là người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc dân sự.

Thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn là việc hai vợ chồng cùng thỏa thuận với nhau về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân và yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận này. Lúc này, theo quy định tại Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải.

Nếu hòa giải thành hai vợ chồng đoàn tụ, hai người cùng thỏa thuận rút đơn yêu cầu ly hôn và Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết.

Nếu hòa giải không thành thì Thẩm phán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Đơn phương xin ly hôn

Theo quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

Khi người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì Tòa án sẽ tiến hành đình chỉ vụ án dân sự.

Lúc này, Tòa án xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý, trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tòa án phải sao chụp, lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

Ngoài ra, khi phiên tòa đang xét xử, nguyên đơn sẽ được hỏi về việc có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu ly hôn không.

Lúc này, nếu việc rút đơn yêu cầu ly hôn và xét thấy việc rút đơn là tự nguyện thì Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận và đình chỉ xét xử.

Như vậy, trong vụ án ly hôn đơn phương, người có quyền rút đơn sẽ là người khởi kiện – người gửi đơn xin đơn phương ly hôn.

Đã rút đơn ly hôn thì có được nộp lần 2 không?

Về nguyên tắc, nếu một sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì Tòa án sẽ không được nộp đơn khởi kiện lại.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền nộp lại đơn khởi kiện khi muốn yêu cầu ly hôn mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu.

Theo đó, khi Tòa chưa chấp nhận yêu cầu ly hôn thì vẫn có thể nộp đơn ly hôn lần thứ hai.

Ngoài ra, nếu Tòa án chưa thụ lý vụ án mà rút đơn ly hôn thì căn cứ vào quyền tự định đoạt của đương sự được nêu tại Điều 5 Luật Tố tụng dân sự 2015 thì vẫn có quyền nộp đơn lần thứ 2.

Tuy nhiên, cần lưu ý là theo quy định tại Nghị quyết 02/2000/NĐ-HĐTP thì người có đơn yêu cầu xin ly hôn đã bị Tòa án bác đơn khi chưa đủ điều kiện để yêu cầu ly hôn thì phải sau 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa có hiệu lực pháp luật, người này mới được nộp lại đơn ly hôn.

5/5 - (1 bình chọn)

Tác giả

  • Ls. Trần Hồng Mạnh

    Luật sư Trần Hồng Mạnh là Giám đốc Công ty Luật TNHH Sunny/ Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. Luật sư có 15 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực Hình sự, Dân sự, Hành chính; là luật sư chuyên nghiệp hoạt động tranh tụng tại các cấp tòa. Phương châm làm việc của Luật sư Trần Hồng Mạnh là: TRÁCH NHIỆM - SÁNG TẠO - HIỆU QUẢ.